Two new species of snail Triculinae group (Pomatiopsidae - Prosobranchia) from Nothern Vietnam

Authors

  • Ho Thanh Hai
  • Dang Ngoc Thanh

DOI:

https://doi.org/10.15625/0866-7160/v33n1.729

Abstract

Thời gian qua, trong số vật mẫu thu được tại suối ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng thuộc vùng núi phía bắc Việt Nam, có một số vật mẫu thuộc phân họ ốc Triculinae, họ Pomatiopsidae. Các kết quả phân tích vật mẫu đã xác định đây là 2 loài mới thuộc giống Vitetricula Dang et Ho, 2006 của họ ốc này. Sau đây là mô tả các loài ốc mới đó.
Vietricula pioacensis sp. nov. (hình 1)
Holotype: 1 mẫu vật (H: 3,5 mm; l: 1,7; V; 2,0; Lo:1,2; lo: 1,2), Paratyp: 3 mẫu vật, thu được tại suối trong khu bảo tồn thiên nhiên núi Pi Oắc, ở độ cao khoảng 1.500 m thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, vùng núi phía bắc Việt Nam, lưu giữ tại Bộ sưu tập, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (STTNSV), Hà Nội, Việt Nam.
Chẩn loại: Vỏ hình côn, khá dày và chắc, đỉnh tày. Mặt vỏ màu vàng nâu với các đốm màu nâu xẫm và đen phủ khắp. Lỗ miệng hình bán nguyệt, vành miệng đơn, liên tục, hơi loe ở góc dưới. Lỗ rốn thành rãnh hẹp, rõ.
Mô tả: Ốc có kích thước nhỏ, vỏ hình côn, đỉnh tày, tháp ốc nhỏ hơn 1/2 chiều cao vỏ. Có 5-6 vòng xoắn, rãnh xoắn đơn. Vòng xoắn cuối phình to, chiều cao vòng xoắn cuối lớn hơn 1/2 chiều cao vỏ. Mặt vỏ màu vàng nâu với với các đốm màu đen và nâu xẫm phủ khắp.
Lỗ miệng hình bán nguyệt. Vành miệng đơn, hơi loe ra ở góc dưới, góc trên lỗ miệng nhọn, nằm ở khoảng giữa vòng xoắn cuối. Nếp trụ dày, bờ trụ liên tục. Lỗ rốn hình rãnh hẹp, rõ. Nắp miệng hình bán nguyệt.
Kích thước (mm): H: 3,2-3,5; l: 1,5-1,7; V: 1,8-2,0 ; Lo: 1,1-1,2 ; lo: 1,1-1,2.
Sinh học, sinh thái: Sống trên mặt lớp bùn, hoặc bám đáy đá, ăn mùn bã hữu cơ mục nát ở các vũng nước đứng hoặc chảy chậm của suối hoặc rạch nước vùng núi.
Ý nghĩa tên loài: tên loài là tên của địa điểm chuẩn ở khu bảo tồn thiên nhiên Pi Oắc ở tỉnh Cao Bằng.
Nhận xét: Trong các loài thuộc giống Vietricula Dang et Ho (2006) đã biết ở Việt Nam, đều có chung một đặc điểm là kích thước vỏ nhỏ, chiều cao chỉ khoảng 3-4,5 mm, có 2 dạng vỏ hình côn và hình tháp, có 4 dạng lỗ miệng: hình bán nguyệt, hình giọt nước, hình bàu dục và hình trám hẹp. Loài mới này tuy cũng có một số đặc điểm chung như trên nhưng về chi tiết, có những đặc điểm không giống với các loài khác trong giống Vietricula đã biết ở Việt Nam. Cho tới nay, loài này mới thấy phân bố ở vũng suối nông vùng núi Pi Oắc, tỉnh Cao Bằng, độ cao khoảng 1.500 m.
Vietricula caobangensis sp. sp. nov. (hình 2)
Holotype: 1 mẫu vật (H: 3,1 mm; l: 1,5; V; 2,2; Lo:1,2; lo: 1,0), Paratyp: 3 mẫu vật (có 1 mẫu bị vỡ vỏ), thu được tại suối ở trong khu bảo tồn thiên nhiên núi Pi Oắc, ở độ cao khoảng 1.500 m thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, vùng núi phía bắc Việt Nam, lưu giữ tại Bộ sưu tập tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Chẩn loại: Vỏ hình côn thuôn, mỏng, trong, đỉnh tày. Mặt vỏ màu vàng với các vệt nâu nhạt, phần tháp ốc có những đốm đen hoặc nâu thẫm. Lỗ miệng hình trám hẹp, tạo thành góc nhọn ở trên và dưới, vành miệng đơn, sắc, không liên tục. Lỗ rốn thành khe hẹp.
Mô tả: Ốc có kích thước nhỏ so với các loài trong giống, vỏ hình côn thuôn, mỏng, trong, đỉnh tày, tháp ốc chỉ bằng 1/3 chiều cao vỏ. Có 5-6 vòng xoắn, rãnh xoắn đơn. Vòng xoắn cuối hơi phình, chiều cao vòng xoắn cuối bằng 2/3 chiều cao vỏ. Mặt vỏ màu vàng với các vệt nâu nhạt, phần tháp ốc có những đốm đen hoặc nâu thẫm.
Lỗ miệng hình trám hẹp, tạo thành góc nhọn ở trên và dưới, vành miệng đơn, sắc, không liên tục. Lỗ rốn thành khe hẹp. Nếp trụ dày, bờ trụ liên tục. Nắp miệng hình trám hẹp.
Kích thước (mm): H: 3,0-3,1; l: 1,4-1,5; V: 2,1-2,2 ; Lo: 1,1-1,2 ; lo: 0,9-1,0.
Sinh học, sinh thái: Sống trên mặt lớp bùn, hoặc bám đáy đá, ăn mùn bã hữu cơ mục nát ở các vũng nước đứng hoặc chảy chậm của suối hoặc rạch nước vùng núi.
Ý nghĩa tên loài: Tên địa điểm chuẩn của loài là tỉnh Cao Bằng.
Nhận xét: Loài mới này có những đặc điểm không giống với các loài khác trong giống Vietricula đã biết ở Việt Nam. Cho tới nay, loài này mới thấy phân bố ở cùng địa điểm với loài Vietricula semilunaris vũng suối nông vùng núi Pi Oắc, Cao Bằng, độ cao khoảng 1.500 m.
Davis (1979, 1981) đã thống kê và xác định có trên 100 loài ốc thuộc 13 giống, 3 tộc, phân họ Triculinae ở vùng Đông Nam á trên lưu vực sông Mê Kông từ Mianma tới Lào, Thái Lan, Căm Pu Chia và có thể tới nam Việt Nam. Hầu hết các loài này là đặc hữu cho lưu vực sông Mê Kông. Ở nước ta, phân loại học phân họ ốc Triculinae - họ Pomatiopsiade mới được nghiên cứu trong những năm gần đây. Tới nay, mới có 13 loài ốc thuôc phân họ Triculinae được xác định tại Việt Nam, đặc biệt, tất cả 13 loài đều là loài mới cho khoa học được xếp trong 2 giống Tricula Benson, 1843 và Vietricula Dang et Ho, 2006. Số lượng loài ốc thuộc phân họ Triculinae ở Việt Nam mới xác định được như trên là chưa đủ so với thực có trong thiên nhiên Việt Nam. Ước tính phải có khoảng 100 loài ốc thuộc phân họ này ở nước ta.

Downloads

Download data is not yet available.

Published

09-05-2012

How to Cite

Hai, H. T., & Thanh, D. N. (2012). Two new species of snail Triculinae group (Pomatiopsidae - Prosobranchia) from Nothern Vietnam. Academia Journal of Biology, 33(1), 17–23. https://doi.org/10.15625/0866-7160/v33n1.729

Issue

Section

Articles

Most read articles by the same author(s)

1 2 3 4 > >>